
Người đàn ông ngoại quốc cùng vợ mua nhiều nhà đất trước khi đăng ký kết hôn, song bà tự ý để người thân đứng tên khiến việc giải quyết tranh chấp trở nên phức tạp khi ly hôn.
Vụ tranh chấp ly hôn, chia tài sản giữa nguyên đơn là người đàn ông ngoại quốc với vợ người Việt và anh chị em ruột của người vợ - bên có quyền nghĩa vụ liên quan, là một trong 10 án lệ được Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao công bố cuối năm 2025. Các án lệ này chính thức được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử trên cả nước kể từ ngày 1/2.
Nội dung án lệ giải quyết tình huống một bên vợ hoặc chồng là người nước ngoài. Hai người đã khai đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới. Trước thời điểm đăng ký kết hôn, người vợ đứng tên ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận.
Sau đó, bà để anh, chị ruột đứng tên một số thửa đất mà không có sự đồng ý hay ủy quyền của chồng. Trong khi đó, bên chuyển nhượng xác nhận khi mua bán đã viết giấy bán cho cả hai vợ chồng. Vấn đề đặt ra là xác định tài sản này là chung hay riêng khi phát sinh tranh chấp?
Ông Even và bà Ngọc kết hôn tháng 8/2013 tại Bình Định. Tháng 11/2016, Even nộp đơn ly hôn, không yêu cầu giải quyết con chung, nợ chung; đề nghị chia đôi căn nhà cấp 3 diện tích gần 174 m2 và 1.888 m2 đất tại tỉnh Bình Thuận.
Theo ông Even, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng nhận chuyển nhượng nhiều thửa đất tổng diện tích 1.888 m2 cùng căn nhà trên đất, trị giá khoảng 1,63 tỷ đồng, toàn bộ do ông bỏ tiền mua. Do là người nước ngoài, không được đứng tên quyền sử dụng đất, ông để vợ đứng tên thay. Tuy nhiên, một số thửa đất lại do chị gái và anh trai của bà Ngọc đứng tên mà ông không hề hay biết hay ủy quyền.
Người vợ không đồng ý, cho rằng nhà, đất là tài sản riêng của bà và người thân; tiền mua do gia đình bà bỏ ra. Chị và anh trai bà cũng khẳng định phần đất đứng tên mình là tài sản riêng của họ.
Trong khi đó, bên chuyển nhượng xác nhận khi chuyển nhượng có viết giấy tay bán cho cả hai vợ chồng. Khi lập hợp đồng, do bà Ngọc nói ông là người nước ngoài không được đứng tên trên giấy tờ nhà đất nên không đưa tên ông này vào.
Hai cấp tòa tuyên trái ngược nhau
Hồi tháng 11/2017, TAND tỉnh Bình Thuận xử sơ thẩm, công nhận thuận tình ly hôn. Tòa xác định khối tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân gồm 1.888 m2 đất theo 5 giấy chứng nhận do UBND huyện cấp và căn nhà gần 174 m2, tổng giá trị hơn 3,1 tỷ đồng. Cho rằng công sức hai bên ngang nhau, tòa chia đôi. Song, do ông Even là người nước ngoài không được đứng tên sở hữu nhà đất nên giao toàn bộ nhà đất cho Ngọc sở hữu, buộc bà thanh toán cho Even hơn 1,55 tỷ đồng.
Không đồng ý, bà Ngọc cùng anh, chị kháng cáo; Even cũng đề nghị định giá lại tài sản.
Tháng 3/2019, TAND Cấp cao tại TP HCM xử phúc thẩm, sửa án sơ thẩm. Tòa xác định tài sản chung chỉ gồm hai thửa đất tổng diện tích hơn 1.000 m2 và căn nhà gần 174 m2, tổng giá trị tạm tính hơn 1,83 tỷ đồng. Phần còn lại thuộc sở hữu của chị gái và anh trai. Đồng thời, tòa phúc thẩm chia cho Even hưởng 30% giá trị quyền sử dụng đất và 20% giá trị căn nhà được xác định là tài sản chung, tương ứng 427 triệu đồng.
Tòa tiếp tục giao toàn bộ nhà đất cho bà Ngọc quản lý, sử dụng và buộc bà thanh toán cho chồng số tiền trên. Phần còn lại khoảng 1,41 tỷ đồng thuộc bà Ngọc, việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ và giá trị tài sản tại thời điểm thi hành án.
Hai bản án đều bị hủy
Tháng 5/2019, ông Even đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. Tháng 11/2021, Chánh án TAND Tối cao kháng nghị, đề nghị hủy bản án phúc thẩm và phân chia tài sản của án sơ thẩm để xét xử lại.
Đầu năm 2022, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao giám đốc thẩm, chấp nhận kháng nghị, tuyên hủy cả hai bản án.
Theo TAND Tối cao, cấp sơ thẩm xác định các thửa đất là tài sản chung của ông Even và bà Ngọc có căn cứ, nhưng chưa xem xét tính hợp pháp của 2 giấy chứng nhận đứng tên chị gái và anh trai bà Ngọc nên chưa giải quyết triệt để.
Trong số các tài sản đang tranh chấp có thửa đất ký hợp đồng mua từ ngày 9/7/2013, trước thời điểm hai người đăng ký kết hôn (6/8/2013), nhưng từ tháng 4/2013, ông Even và bà Ngọc đã có tờ khai đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới vào tháng 7/2013.
Vì vậy, theo Hội đồng Thẩm phán, có cơ sở xác định thửa đất này là tài sản chung của vợ chồng. TAND Tối cao cho rằng cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung của ông Even và bà Ngọc là có căn cứ; trong khi cấp phúc thẩm xác định là tài sản riêng của Ngọc là không đúng.
TAND Tối cao cũng xác định, tòa cấp phúc thẩm chia quyền sử dụng đất theo tỷ lệ bà Ngọc hưởng 70%, ông Even 30% là "không phù hợp nguyên tắc chia tài sản chung theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014"; trong khi việc sơ thẩm chia đôi giá trị đất là có cơ sở.
Với căn nhà, tòa phúc thẩm cho ông Even hưởng 20% do bà Ngọc trực tiếp xây dựng là có căn cứ. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm không định giá lại tài sản theo yêu cầu của Even, dù có chứng thư thẩm định mới xác định giá trị quyền sử dụng đất khoảng 3,8 tỷ đồng (chênh gần 1,9 tỷ đồng so với trước đó), là chưa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Từ đó, TAND Tối cao giao hồ sơ cho TAND tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm lại phần xác định và phân chia tài sản chung theo quy định.
Hải Duyên
* Tên đương sự đã thay đổi
Click help me: new action movies 2016 - new horror movies 2016 - new sci fi movies 2016 - new comedy movies 2016 - new martial arts movies - new drama movies - new adventure movies - new romance movies 2016
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét